CÁCH XỬ LÝ TOÀN BỘ PHẦN HẬU KỲ CHO PHIM TRONG DAVINCI RESOLVE 14

The Beyond (2017) là một bộ phim được xử lý toàn bộ phần hậu kỳ trong DaVinci Resolve 14. Trong bài viết này, đạo diễn – biên kịch kiêm nhà sản xuất của bộ phim là HaZ Dulull giải thích lý do tại sao anh lại làm như vậy.

The Beyond dự kiến sẽ được phát hành tại Mỹ vào tháng 1 năm 2018 tới. Cốt truyện của phim dựa trên một phim ngắn cũ của HaZ Dulull là Project Kronos (2014) – Nó là một phim khoa học viễn tưởng (sci-fi documentary feature), là một biên niên sử về một sứ mệnh mang tính cách mạng, gửi các phi hành gia cùng các robot tiên tiến đi khám phá một lỗ giun (wormhole – là một đường đi lý thuyết xuyên qua không-thời gian có thể tạo thành một lối tắt cho các quãng đường dài xuyên qua vũ trụ. Các lỗ giun được dự đoán bởi thuyết tương đối tổng quát của Albert Einstein.) Khi sứ mệnh quay trở lại một cách bất ngờ, các cơ quan không gian lao vao cuộc đua khám phá những điều mà các phi hành gia đã gặp phải trong chuyến hành trình của họ.

Phim được quay bằng máy quay của Blackmagic Design ở ProRes 4444 và ProRes 422 HQ. Gồm các shot VFX sau này được dùng để re-project trở lại vào máy quay.

Cũng giống như hầu hết các phim của tôi, VFX được dùng là một công cụ kể chuyện, và do đó tôi quyết định dùng Resolve không chỉ để thiết lập các look trước khi quá trình quay bắt đầu mà còn để hỗ trợ cho quá trình dựng ngay trong lúc chỉnh màu.

Tôi không thích phải vào và ra nhiều ứng dụng khác nhau trong quá trình hậu kỳ, không có dựng offline hay online, chỉ có một quá trình dựng duy nhất. Tôi không transcode, chỉ đơn giản là đưa các footage thẳng vào BINS, làm vài thao tác trong media management và tiến hành dựng.

Tôi thực hiện các lệnh VFX cơ bản ngay trong Resolve và reframe các footage 4K khi dựng. Lý do khiến tôi không thể hoàn thành đúng thời hạn là vì tôi tự mình làm mọi thứ, nhưng tôi có thể đạt được tất cả những thứ mình muốn mà không gặp bất cứ hạn chế nào trong dựng phim hay hậu kỳ.

Thách thức

Thách thức lớn nhất là đảm bảo rằng bạn tổ chức mọi thứ trên server một cách quy củ và có các quy ước đặt tên cụ thể. Vì bản thân tôi là một người dựng phim, kiêm đạo diễn, biên kịch và sản xuất, nên tôi có thể đảm bảo rằng tôi đặt tên cho các VFX shot đúng nên có thể dễ dàng tìm kiếm trong BINS một cách nhanh chóng. Như vậy, tôi tránh xa các tập tin truyền thống với những cái tên khủng khiếp như: VFX_0010_0939_0393 — vốn hết sức vô nghĩa, rối rắm và khó hiểu. Tôi thường đặt tên như sau: Wormhole_EST_0010 hay Mission_Cont_ScreenGFX_0010.

Một thách thức lớn khác nằm trong việc kết hợp các footage với tốc độ khung hình khác nhau và codec khác nhau do việc sử dụng các stock footage từ NASA và một số đơn vị khác để đưa vào phim. Bởi bộ phim có tính chất tài liệu, tôi cần lấy được nhiều chất liệu hỗ trợ nhất có thể (sau này, tôi đã thay đổi một chút trong VFX) để kể câu chuyện, vậy nên tôi retiming của Resolve để xử lý vấn đề này.

Tôi không thể dựng với Log hay các LUT căn bản cho Rec 709, tôi thích tự xây dựng look riêng cho hình ảnh trong phim của mình. Bằng cách đó, tôi xem các đoạn cut back để xem hình ảnh có phù hợp với tone màu và tâm trạng của cảnh đó hay không. Vì tôi đã dựng trong Resolve, người chỉnh màu có thể dùng timeline của tôi trên Resolve và có thể chọn phát triển dựa trên lớp màu đầu tiên mà tôi đã xử lý hoặc xoá chúng và làm lại từ đầu. Nhưng quan trọng là tôi đã truyền đạt được ý định của tôi về tone và tâm trạng của mỗi shot cho người chỉnh màu một cách cụ thể nhất có thể, vậy nên người chỉnh màu có thể nắm bắt ý tôi nhanh hơn và làm việc theo hướng trực quan hơn nhiều.

The Beyond do colourist Max Horton (“Gravity”) chỉnh màu và anh đã nắm bắt rất tốt ý định của tôi nhờ lớp chỉnh màu đầu tiên và dựa vào đó để hoàn tất dự án.

Xử lý HDR

Tôi muốn phim có chất lượng điện ảnh nhưng vẫn giữ được tone phim tài liệu.

Paula Crickard, đồng sản xuất với tôi trong dự án này, khuyên rằng chúng tôi nên chỉnh màu HDR để có cơ hội được các nhà phân phối online như Netflix, Apple và Amazon chú ý đến, đặc biệt là khi nội dung HDR trở thành tiêu chuẩn mới và ngày càng được nhiều nhà phân phối nội dung đòi hỏi. Chúng tôi không muốn phải làm lại phần hậu kỳ để cho ra một bản HDR nếu sau này có đơn vị nào đó yêu cầu, bởi chúng tôi chỉ đủ ngân sách cho vài ngày chỉnh màu mà thôi, vậy nên chúng tôi tiến hành luôn và làm một bản HDR. Sau đó chúng tôi tạo một phiên bản Rec 709 thông qua Dolby Vision và tôi phải thừa nhận rằng tôi rất ngạc nhiên về cách nó xử lý màu.

Đầu tiên, tôi rất hoài nghi về HDR đối với dự án của mình, đặc biệt là bởi tôi không quay ở HDR. Nhưng việc các shot VFX ở 32-bit float EXRs đã giúp chúng tôi, dữ liệu này tương thích để làm việc với HDR. Và hầu hết các footage được quay ở bằng Blackmagic URSA Pro có đủ dữ liệu mà chúng tôi cần để chỉnh màu ở HDR.

Điều mà tôi nhanh chóng học được là bạn nên sử dụng HDR để kể câu chuyện thay vì sử dụng nó như một mánh lới hay một chức năng. Mỗi cảnh nên được đối xử với những đặc điểm của riêng nó chứ không phải chỉ dùng HDR cho có.

Kết luận

Khi dựng phim, dù nó là phim đầu tay hay phim thứ 100, thì cũng hãy cứ tin vào lối kể chuyện của bạn, nó chính xác tới 9/10 lần. Một điều nữa mà bạn cũng nhanh chóng học đường là để cho cảnh tự mình thiết lập và tự sống cuộc đời của riêng nó thay vì can thiệp quá nhiều.

Có rất nhiều ưu điểm khi sử dụng Resolve, đặc biệt là sau lần Blackmagic Design nâng cấp lên phiên bản 14, biến nó thành một siêu-thị-hậu-kỳ. Với tư cách là một người làm phim, tôi có thể hợp nhất các giai đoạn offline và online trong hậu kỳ, cho phép tôi dựng phim ngay trong quá trình chỉnh màu, cực kỳ tiết kiệm thời gian và cho phép tôi sáng tạo nhiều hơn.

Tôi thậm chí cũng dùng Resolve để thực hiện một vài hiệu ứng hình ảnh, bao gồm plate augmentation và lens effects, giúp tôi tiết kiệm nhiều thời gian hơn vì tôi không phải nhập và xuất các footage sang một phần mềm VFX khác. Và đó là điều vô giá khi bạn nhận được những feedback từ các nhà sản xuất hoặc nhà phân phối vào phút cuối.

Nguồn: RedShark News

Pixel Factory sưu tầm và biên dịch