ĐÁNH GIÁ TOÀN DIỆN VỀ BLACKMAGIC POCKET CINEMA CAMERA 4K – PHẦN 2

Tác giả Simon Wyndham

Blackmagic Pocket Cinema Camera 4K có nhiều chi tiết và sắc thái. Ở phần trước, chúng ta đã nói về các tính năng chính và mạch ISO (gain) kép của nó cho phép bạn kiểm soát độ phơi sáng một cách linh hoạt dù không có vòng ND. Trong phần 2 này, chúng ta sẽ tập trung vào một trong những chức năng chi tiết hơn của máy quay này.

Menu cài đặt

Menu cài đặt trên máy quay thường là một mê cung rối rắm mà để điều hướng đến chức năng mà bạn cần có thể mất rất nhiều thời gian. Các menu phụ trong các menu phụ tự được thiết kế một cách phức tạp tạo cảm giác như cố tình đặt bạn vào một chuỗi hành vi phức tạp không bao giờ kết thúc. Blackmagic Design luôn là một hãng danh tiếng trong việc loại bỏ sự phiền phức này ra khỏi hệ thống, và nó đã được người dùng hưởng ứng rất nhiệt tình trong các mẫu camera trước đây như URSA Mini, bởi người dùng có thể điều hướng các thiết đặt một cách dễ dàng.

BMPCC4K cũng được thừa hưởng thành tựu này, thậm chí, hãng này đã tiến xa hơn nữa bằng việc khiến menu dễ sử dụng hơn trước đây. Có một đặc tính thiết kế ‘trụ cột’ khi Blackmagic Design làm ra Pocket 4K là tính ‘dễ sử dụng’. Ý tưởng đằng sau nó là cả menu cài đặt và giao diện điều khiển chính đều được thiết kế để sao cho một khi bạn thực hiện các thiết đặt cơ bản (như tốc độ khung hình và độ phân giải), bạn không cần phải truy cập vào menu nữa trừ phi bạn cần phải thiết đặt thông số nào đó phức tạp hơn, như là slow motion 120 fps, điều mà tôi sẽ nói tới ở phần sau.

Hệ thống menu set up chia ra 6 mục được gắn nhãn rõ ràng: Record, Monitor, Audio, Setup, Presets, và LUTs.

Mục ‘Record’ cho phép bạn set up loại codec và độ phân giải, colour gamut và gamma (Video, Extended Video, Film), tốc độ khung hình, thiết đặt Timelapse, thậm chí cả độ sắc nét (mặc định là off) và có thể set ở Default, Medium và High. Cài đặt này thú vị bởi vì các máy quay truyền thống của BMD không có, nhưng nếu bạn làm việc trong môi trường truyền hình, record ở chế độ video (Rec.709) thì nó có thể sẽ hữu dụng.

Thiết đặt tốc độ khung hình cũng thú vị. Người dùng URSA sẽ quen thuộc với cái này, nhưng bạn có thể thiết đặt một project resolution và sau đó off speed frame rate một cách riêng biệt. Như tất cả các thiết đặt khác cần truy cập trong quá trình quay, off speed frame rate có thể được điều chỉnh mà không cần phải truy cập và menu cài đặt chính, bạn chỉ cần bấm nút HFR và chọn frame rate trên màn hình.

Mục “Monitor” cho phép bạn truy cập vào tất cả những thứ bạn cần để setup nhiều output và các lớp phủ khác nhau cho cả màn hình LCD tích hợp trên máy và HDMI output. “Audio” tự bản thân nó cũng đã thể hiện rằng trong đó bạn có thể truy cập để setup nguồn âm thanh và các channel gain, mặc dù các thiết đặt chính về âm thanh đã có sẵn hết trên giao diện chính. Mặc dù vậy, trong menu này, bạn có thể bật và tắt nguồn phantom.

Mục ‘Setup’ rất đơn giản. Trong này, bạn có thể thiết đặt ngày, ngôn ngữ, dù bạn muốn shutter angle hay shutter speed, bật hay tắt image stabilisation (cho các ống kính có tính năng này), và timecode drop frame. Thậm chí có cả tính năng flicker free shutter. Các cài đặt khác cho phép bạn configure các nút đa chức năng cũng như kết nối Bluetooth để điều khiển từ xa. Và, một lần nữa nhắc lại, các thiết đặt này được bố trí một cách rất đơn giản, dễ hiểu.

“Presets” là một cách để lưu các config máy quay khác nhau và gọi lại chúng một cách nhanh chóng, trong khi đó “LUTs” xử lý việc load và chọn LUTs.

LUTs trên Pocket 4K

BMPCC4K được config với 4 LUT bạn có thể dùng với chế độ Film của máy quay này. Pocket 4K Film to Extended Video, Pocket 4K Film to Rec 2020 HLG, Pocket 4K Film to Rec 2020 PQ Gamma. Bạn cũng có thể tải 3D LUT của bạn bằng cách chép chúng vào root trên thẻ SD.

LUT có thể sử dụng theo hai cách khác nhau. Bạn có thể dùng LUT để giám sát hình ảnh khi quay ở chế độ Film (log) một cách dễ dàng hơn. Bạn cũng có thể áp LUT vào file record luôn. Khi dùng LUT chỉ để giám sát hình ảnh hiển thị trên màn hình, máy quay sẽ hiển thị một biểu tượng LUT nhỏ ở phía bên tay trái của màn hình. Mặc dù vậy, khi bạn áp thẳng LUT vào file record, biểu tượng LUT này sẽ chuyển sang màu đỏ để cảnh báo rằng bạn đang áp LUT vào hình ảnh.

Đừng nhân đôi LUT

Mặc dù vậy, đừng phạm sai lầm mà tôi đã từng phạm phải. Tôi quay ở chế độ Extended Video và vì lý do nào đó, tôi dùng LUT chuyển giữa chế độ Film và Extended Video. Vậy nên tôi vô tình đã áp một LUT Extended Video trên thiết đặt Extended Video sẵn có. Tôi không áp thẳng LUT vào monitor nên hình ảnh gốc không bị ảnh hưởng nhiều lắm. Nhưng sau này tôi mới vỡ lẽ ra tại sao hình ảnh trên màn hình lại có độ tương phản lớn đến vậy.

Chức năng âm thanh

BMPCC4K chỉ có một cổng Mini-XLR đơn cho direct balanced audio. Ngoài ra nó có thêm một cổng mic 3.5mm. Giờ đây, với tư cách là một đầu vào âm thanh chính, tôi chắc chắn sẽ sử dụng cổng Mini-XLR input làm tuỳ chọn chính. Nó mạnh mẽ hơn rất nhiều so với jack 3.5mm. Nhưng điều này cho thấy tôi có nhiều tuỳ chọn set up linh hoạt hơn. Bạn có thể adapt một mic XLR khác, hay bất cứ loại mic nào bạn muốn dùng thành một souce âm thanh thứ hai và đưa vào máy quay thông qua jack 3.5mm.

Trong menu cài đặt âm thanh, bạn có thể chọn độc lập nguồn đầu vào cho cả hai kênh âm thanh stereo khả dụng. Các tuỳ chọn này gồm có Camera (internal mic) left, camera right, và camera mono. Đối với các micro bên ngoài, bạn có thể chọn giữa XLR Line, XLR Mic, 3.5mm Left – Line, 3.5mm Right – Line, 3.5mm Mono – Line, 3.5mm Left – Mic, 3.5mm Right – Mic, và 3.5mm Mono – Mic.

Jack 3.5mm là stereo, và bạn có thể chọn giữa kênh trái và phải hoặc làm một mono mix. Nhưng bạn sẽ không thể, ví dụ như, có một mic XLR đi vào cổng XLR input đặt sang kênh bên phải, và đưa một stereo input khác thông qua cổng 3.5mm sang kênh trái và vẫn có thể điều khiển các cấp độ độc lập trên cả hai kênh đầu vào 3.5mm. Bạn sẽ phải chọn giữa trái, phải hoặc mono cho từng kênh âm thanh được ghi lại tương ứng.

Với các tuỳ chọn nguồn phantom, phần âm thanh được xử lý rất tốt. Trong suốt quá trình sử dụng, đồng hồ đo âm thanh rất nhạy. Nó trễ một chút, nhưng chỉ là một chút chút chút.

Đồng hồ đo âm thanh lớn và rõ ràng, nằm ở góc phải bên dưới của màn hình LCD, và chúng hỗ trợ bạn xử lý phần dbfs marking. Bạn có thể điều chỉnh âm lượng trực tiếp trên màn hình cảm ứng, điều khiển cả hai kênh trái, phải/input cũng như headphone output.

Bạn có thể tải mẫu âm thanh thu từ camera ở dưới. Chúng được ghi bằng micro tích hợp sẵn trong máy và Sennheiser wired lav mic, một số được gain ở mức tối đa để cho thấy nhiễu. Các mạch âm thanh có hoàn toàn yên tĩnh không? Không hẳn, nhưng chúng được cải thiện rất nhiều so với bản Pocket cũ, và bộ khuếch đại khá yên tĩnh.

Màn hình chính

Màn hình chính được bố trí hết sức logic và rõ ràng. Như mọi thứ khác trên máy quay này, điều quan trọng là mọi thứ hết sức quy củ. Bạn muốn lấy nét phần nào thì chỉ cần chạm vào vùng hình ảnh đó trên màn hình. Chạm vào bất cứ thông số nào trên màn hình thì bạn có thể điều chỉnh thông số đó. Ví dụ như phía trên bên trái, bạn có thể nhìn thấy một hộp nhỏ. Chạm vào đó, bạn có thể dễ dàng cài đặt zebras, focus peaking, frame guides…  Đối với frame guide, có các lựa chọn tốt từ 14:9 đến 2.40:1. Tôi muốn có thêm tuỳ chọn 2:1 nhưng hiện tại thì nó chưa được hỗ trợ.

Nhấn chuyển đổi timecode giữa các bản ghi và thời gian trong ngày. Phần còn lại như ISO và cân bằng trắng có thể tự giải thích cho mình. Tuy vậy, bạn nên lưu ý rằng white balance có thể nhanh chóng điều chỉnh 50k increment hoặc để tự động.

Vuốt lên trên bạn sẽ thấy tất cả các thông tin HUD, vuốt ngược trở lại sẽ trở về màn hình chính. Vuốt ngang sẽ thấy set up metadata của clip và project. Tất cả metadata này, kể cả ngày/đêm, nội/ngoại, đều được hiển thị trên DaVinci Resolve, cho phép việc tổ chức các clip trong hậu kỳ dễ dàng hơn.

Off-speed và sensor windowing

Một trong những tính năng nổi bật trên máy quay này là nó cho phép ghi off-speed, nói cho dễ hiểu thì là slow motion đẹp mắt. Tốc độ khung hình tối đa ở độ phân giải 4K là 60 fps, nhưng nếu quay ở 1080, bạn có thể đẩy tốc độ khung hình lên 120 fps bằng cách windowing cảm biến.

Tôi biết một người rất thích việc quay slow motion cùng với âm thanh vậy nên anh ấy có thể tuỳ chọn ramping hoặc chọn tốc độ phát lại sau để có được sự linh hoạt tối đa. Ở chế độ 4K, cả DCI lần UHD, anh có thể làm điều này bằng nhiều cách. Đầu tiên, anh có thể set máy quay ở 50p hoặc 60p. Tất cả âm thanh sẽ được ghi theo cách này và nếu anh dùng footage ở tốc độ khung hình trong bản dựng thấp hơn, anh có thể có được tốc độ thời gian thực bằng cách sử dụng dropping frames của NLE.

Một cách khác là set project frame rate trên máy là 25p, nhưng đặt off speed frame rate ở 60p. Khi bạn bấm nút off-speed HFR thì các footage sẽ được quay ở 60 fps, nhưng tự động phát lại theo slo-mo.

Mọi thứ cũng tương tự như quay 120 fps ở chế độ FHD. Nó windows cảm biến lên gấp 2, nhưng hãy nhớ rằng khi bạn đang window ở độ phân giải Full 4K. Sau đó, bạn có thể ghi ở 120fps và phát lại slo-mo. Nhưng có một tính năng rất tiện dụng mà BMPCC4K sử dụng để quay các clip off-speed này, chúng ta cũng có thể tìm thấy tính năng này trên URSA Mini Pro. Máy quay vẫn ghi âm thanh ở chế độ off-speed. Khi bạn phát lại clip ở slo-mo, âm thanh cũng phát, mặc dù âm thanh thì phát ở thời gian thực, vậy nên nó không đồng bộ với các hành động diễn ra trên màn hình.

Bạn có thể hỏi là, nó có tác dụng gì. Đơn giản thôi, nếu bạn muốn tăng tốc độ ramp trong hậu kỳ, và bạn có clip có tiếng, bạn có đủ âm thanh để dùng. Rất nhiều camera quay slo-mo không tiếng. Đây có vẻ là một tính năng nhỏ, nhưng có ai đó sẽ thấy nó hữu ích khi họ cần đến nó.

Cuối cùng, chúng ta nói đến việc window cảm biến. Khi bạn chọn quay ở chế độ UHD (3840 x 2160), máy quay sẽ có nút “Window sensor” đi kèm. Điều này hết sức bình thường và đơn giản bởi vì sự khác biệt giữa độ phân giải UHD và full 4K DCI (4096 x 2160)

Nguồn: RedShark News

Pixel Factory sưu tầm và biên dịch

Xem thêm: ĐÁNH GIÁ TOÀN DIỆN VỀ BLACKMAGIC POCKET CINEMA CAMERA 4K – PHẦN 1

ĐÁNH GIÁ TOÀN DIỆN VỀ BLACKMAGIC POCKET CINEMA CAMERA 4K – PHẦN 3