DỰNG PHIM: KHI NÀO THÌ NÊN CẮT VÀ CẮT Ở ĐÂU

Bài viết này dựa trên cuốn sách In the Blink of an Eye của Walter Murch.

Dựng phim: Sự kết hợp tuyệt vời giữa chuyên môn kỹ thuật, cảm hứng nghệ thuật và bản năng thuần túy.

Hôm nay, chúng ta cùng phá lệ để nói một chút về mặt khái niệm trừu tượng của nghệ thuật dựng phim trong bài viết này.

Tôi dạy một khóa học có tên là Workshop Hậu Kỳ Nâng Cao tại Columbia College Chicago. Tôi đã tạo ra lớp học như một nghiên cứu chuyên sâu về dựng phim nâng cao và các kỹ thuật hiệu ứng.

Chúng tôi bắt đầu học kỳ bằng việc cắt một sequence thoại phức tạp, sử dụng sự trợ giúp của ScriptSync để dựng từ hơn 40 góc máy tạo nên cảnh. Bởi vì các sinh viên có quá nhiều việc phải làm về mặt kỹ thuật trong việc xây dựng cảnh, nên đôi khi họ không thể thấy được bức tranh tổng thể trong lần dựng đầu tiên. Đó là bởi vì họ có quá nhiều tư liệu để xử lý – và có quá nhiều quyết định cần xem xét – họ thường có xu hướng bị cuốn vào việc xây dựng cảnh, mà quên mất việc phải ngồi lại và thực sự xem.

Tôi nghĩ rằng rất nhiều người dựng phim gặp vấn đề này thường xuyên. Do đó, rất tốt để giới thiệu các yếu tố thực sự buộc bạn phải ý thức được việc các quyết định mà bạn đưa ra ảnh hưởng đến khán giả như thế nào.

Do đó, với nhiệm vụ này, tôi thấy rằng việc nghiên cứu đồng thời một số kỹ thuật nhất định từ cuốn In the Blink of an Eye của Walter Murch là rất có ích, như vậy họ có thể liên tục kiểm tra bản năng của mình, và không để cho khía cạnh kỹ thuật của dựng phim phá hỏng quá trình sáng tác câu chuyện.

  • ・Nguyên tắc số 6: hãy chú ý đến động lực của mỗi lần cắt, điều gì thúc đẩy bạn thực hiện cú cắt đó.
  • ・Đừng lo, nó chỉ là một phim thôi: Coi cái chớp mắt như một điểm trực quan và cảm xúc.
  • ・Dragnet: Xem xét nhịp điệu và tốc độ của cắt.

Quy tắc số 6

Tôi rất thích cái này. Đây là điều mà các dựng phim mới cần biết, đặc biệt là các sinh viên – những người được dạy là ‘Đừng phá vỡ quy tắc 180 độ’ và lời này theo họ từ ngày đầu vào trường điện ảnh.

Trong quy tắc số 6, Murch phân tích 6 tiêu chí làm nên một cut tốt. Mặc dù danh sách của anh có phần tùy tiện về “tỉ lệ phần trăm” quan trọng của mỗi yếu tố, nhưng tôi nghĩ rằng nó đã chỉ ra được một yếu tố rất quan trọng là người dựng phim phải chú ý đến các tiêu chí quan trọng khi đưa ra quyết định cắt vào lúc nào và ở đâu. Dưới đây là danh sách các ưu tiên của Murch khi phân tích một cut tốt:

  • ・Cảm xúc: 51% – cảm xúc ở thời điểm này có đúng hay không?
  • ・Câu chuyện: 23% – liệu nó có giúp nâng câu chuyện lên hay không?
  • ・Nhịp điệu: 10% – Nó có xảy ra tại một thời điểm thú vị về mặt nhịp độ và ‘đúng’ hay không?
  • ・Dấu vết thị giác: 7% – Liệu nó có tạo ra dấu vết về mặt thị giác hay không (mối quan tâm tới vị trí và chuyển động của độ tập trung và hứng thú của khán giả trong khung hình)?
  • ・Không gian ba chiều của hành động: 4% – Cut mà bạn thực hiện có tôn trọng tính liên tục của không gian thực tế nơi các nhân vật đang ở và trong mối quan hệ giữa các nhân vật với nhau không?

Giờ thì, lý tưởng nhất là, mỗi cut phải đáp ứng từng tiêu chí trong sáu tiêu chí này. Tuy nhiên, rõ ràng là không phải lúc nào bạn cũng có thể làm được điều đó. Vậy nên, trong ngắn hạn, danh sách này ưu tiên cho chủ thể hơn đối tượng – tức là, nó thách thức người dựng phim phải cân nhắc cảm xúc và câu chuyện quan trọng hơn các cân nhắc về không gian hai chiều và ba chiều. Murch thậm chí còn gán cho cảm xúc giá trị 51%, tức cảm xúc là yếu tố quan trọng hơn so với cả 5 tiêu chí kia cộng lại đối với một cut.

Kiểu kiểm tra này là rất quan trọng, đặc biệt là trong các bài tập mà các sinh viên của tôi cần xem xét hơn 40 góc máy khác nhau để xây dựng một cảnh thoại. Rất dễ để bạn cảm thấy lười biếng và bỏ qua việc cố gắng tìm kiếm một khoảnh khắc hoàn hảo về mặt cảm xúc, thay vào đó, người ta thường có xu hướng thấy một cảnh cũng ‘tàm tạm’ và cắt cho xong chuyện. Nhưng đó là một trong những điều đẹp đẽ mà bạn có thể thấy được trong  một lớp dựng phim – mọi người ai cũng được cho các footage như nhau, nhưng kết quả của mỗi người đạt được lại rất khác nhau. Thật vậy, khi mọi người chiếu tác phẩm của mình và nhận xét cho nhau, rõ ràng là các sinh viên đã đặt cảm xúc, câu chuyện và nhịp điệu lên trên hết là những người đạt kết quả tốt nhất. Chỉ cần một buổi chiếu là tất cả các sinh viên đã ‘hiểu bài’ và bắt đầu đánh giá các quyết định cắt của mình theo một cách hoàn toàn mới.

Đừng lo, đó chỉ là một bộ phim mà thôi

Lý thuyết của Murch gán cái chớp mắt của người làm điểm cảm xúc là một trong những lý thuyết thú vị nhất mà tôi từng nghe về dựng phim. Bên cạnh việc đọc sách của anh ấy, tôi còn khuyên bạn hãy nghe tập anh ấy nói về điều này trong Radiolab (Podcast ưa thích của tôi).

Về cơ bản, đây là nguồn gốc của lý thuyết này:

Năm 1974, khi dựng The Conversation, anh phát hiện một điều kỳ lạ. Anh thấy là mỗi lần anh quyết định cắt, nhân vật của Gene Hackman là Harry Caul sẽ nháy mắt rất gần với điểm mà anh quyết định cắt. Anh tiếp tục khám phá ý tưởng này, và đi đến kết luận rằng thông thường, một người sẽ nháy mắt khi anh ta hoặc cô ta có một suy nghĩ hoặc cảm xúc hoàn toàn mới.

Murch nói: “Vì vậy, có vẻ như đối với tôi, tỉ lệ chớp mắt của chúng ta, bằng cách nào đó, ăn khớp hơn với trạng thái cảm xúc của chúng ta và bản chất cùng tần suất của những suy nghĩ của chúng ta hơn là so với không khí môi trường mà chúng ta đang có mặt. Cái chớp mắt vừa là thứ giúp một sự phân tách bên trong của suy nghĩ được diễn ra, hoặc nó là một phản xạ không điều kiện xảy ra khi xuất hiện sự phân tách về mặt tinh thần diễn ra.”

Thủ thuật mà tôi dùng để hướng dẫn cho sinh viên về kỹ thuật này trên lớp là cho sinh viên được chương này sau khi họ thực hiện xong quá trình cắt thô, và trước khi họ tiến hành tinh chỉnh bản cắt. Sau đó, họ có thể đánh giá liệu lý thuyết của Murch có đúng hay không. Tôi yêu cầu sinh viên đếm thử xem bao nhiêu lần các nhân vật của họ chớp mắt vào lúc hoặc gần lúc họ chọn cắt, và sau đó, khi tiến hành tinh chỉnh bản dựng, họ làm việc với một lý thuyết mới mà họ vừa học được. Thường thì, họ sẽ thấy là lý thuyết này thực sự đúng.

Dragnet

Đây là một lý thuyết tuyệt vời khác – đặc biệt là cho sinh viên điện ảnh. Mỗi dựng phim khi mới vào nghề sẽ bắt đầu cắt theo phong cách semi-Dragnet, tức là cả video và âm thanh của toàn bộ lời thoại của mỗi nhân vật được bao gồm trong một lần dựng. Do đó, nó có xu hướng giống như một trận đấu tennis, như thế này: (Từ In the Blink of an Eye)

  • – Anh đã gặp con anh chưa? (Cắt)
  • – Chưa, tối qua nó không về nhà. (Cắt)
  • – Bình thường nó hay về nhà lúc mấy giờ? (Cắt)
  • – Hai giờ sáng. (Cắt)

Đây là một phong cách dựng có tên là Dragnet vì tính hiện thực đầy cứng nhắc, nổi tiếng nhờ loạt phim truyền hình có cùng tên, kết quả là timeline của sinh viên đầy các cut đơn điệu, không có gì hơn. Một lần nữa phải nhắc lại là nó rất phổ biến đối với các dựng phim mới vào nghề.

Murch nói: “Hệ thống ‘Dragnet’ là một cách dựng đơn giản, nhưng nó là một sự đơn giản đầy nông cạn, không phản ánh được ngữ pháp của những trao đổi phức tạp diễn ra trong các cuộc trò chuyện thông thường nhất. Nếu để ý kỹ các đoạn hội thoại giữa hai người, bạn sẽ không chỉ tập trung sự chú ý của mình vào người đang nói. Thay vào đó, khi một người vẫn đang nói, bạn sẽ nhìn người nghe để xem anh ta nghĩ gì về những điều đang được nói tới. Điều quan trọng là: chính xác khi nào thì bạn quay qua nhìn người kia?”

Và đó chính xác là nơi lý thuyết về cái chớp mắt trở nên hữu dụng. Thật vậy, đây là lúc tôi chỉ cho sinh viên của mình sử dụng những kỹ thuật đơn giản – như L cut – và yêu cậu họ nghiêm túc xem xét về việc, với tư cách là người xem, đâu là nơi mà chúng ta muốn, thậm chí là cân, phải thấy shot phản ứng, nán lại một ở một shot hay cutaway. Chắc chắn là rất thú vị khi xem các sinh viên bắt đầu với toàn straight cut, và sau đó quay lại, chỉnh sửa bản dựng cho đến khi hầu như không còn straight cut nào nữa, bởi vị họ đã học cách để dự đoán những gì khán giả muốn/cần xem.

Murch nói: “Một phần trong công việc của bạn là dự đoán, một phần là kiểm soát quá trình suy nghĩ của khán giả. Để mang đến cho họ những gì họ muốn/hoặc những gì họ cần trước cả khi họ yêu cầu – tạo ra điều ngạc nhiên nhưng đồng thời cũng là hiển nhiên.”

Nguồn: Premium Beat

Pixel Factory sưu tầm và biên dịch