NHỮNG BÀI HỌC VỀ DỰNG PHIM RÚT RA TỪ NHỮNG VÍ DỤ ĐIỂN HÌNH TRONG ĐIỆN ẢNH

Tác giả: Jonny Elwyn

Đôi khi, bạn không cần một cái tutorial dài lượt thượt để học về những mánh khóe trong dựng phim. Hãy xem các ví dụ điển hình trong điện ảnh dưới đây.

Để học dựng phim, một trong những sở thích mới của tôi là xem trang Editing Modulations trên Tumblr. Nó có một bộ sưu tập các clip dài 2 giây với các bài học và những ghi chú ngắn về các thủ thuật cắt, chuyển cảnh và dựng phim.

Trong bài viết này, chúng tôi đã tập hợp một loạt các kỹ thuật dựng mà Editing Modulations đã đề cập đến, và tôi có bổ sung thêm một vài suy nghĩ cá nhân cùng một số link tham khảo dưới từng chủ đề. Nó rất đáng để bạn xem qua từng ví dụ để tìm hiểu thêm về các dựng phim có liên quan cũng như bối cảnh lớn hơn trong phim.

Chúng ta sẽ cùng xem xét các kỹ thuật dựng như:

  • ・Match Cut
  • ・Chồng mờ
  • ・Các đoạn cắt ẩn
  • ・Wipe và các chuyển đổi
  • ・Kết hợp nhiều kỹ thuật

Với tư cách là người dựng phim, chúng ta không nên ngại việc sáng tạo với các chuyển đổi trong cảnh, bao gồm việc sử dụng các hiệu ứng và chồng mờ. Nếu đạo diễn không thích, bạn có thể loại bỏ chúng bất cứ lúc nào, nhưng ít nhất hãy thử cái gì đó khác với những thứ mà bạn vẫn làm thường ngày.

Dựng với match cut

Những cú match cut trong Baby Driver là những ví dụ tuyệt vời về việc một kỹ thuật dựng được viết theo kịch bản. Điều này không phủ nhận việc bạn có thể tạo ra match cut hữu cơ trong project, nhưng thường thì người ta phải chuẩn bị trước để có được sự ăn khớp trong hình ảnh – yếu tố quyết định để thực hiện match cut.

Có hàng tấn các ví dụ về match cut trên Editing Modulations, vậy nên hãy xem thêm các ví dụ từ The Graduate, Snatch, và Schindler’s List.

Trong ví dụ ở trên, bạn có thế thấy vị trí của diễn viên và chuyển động của cái ô tô màu đen kéo sự chú ý của mắt bạn sang bên trái, chuẩn bị cho sự xuất hiện của cái xe lơ lửng trong shot tiếp theo. Match cut này chủ yếu dựa trên vị trí của Baby trong tiền cảnh – mặc dù các yếu tố khác cũng rất khớp, chẳng hạn như những chiếc xe bên trái và bên phải, cái cẩu và cột B2.

Chúng ta cũng nên nghĩ về ý nghĩa được tạo ra khi hai shot này được ghép với nhau, nó không chỉ là một chuyển đổi hình ảnh trông thú vị.

Match cut trên đây từ Grease (1978) là sự tương phản giữa tưởng tượng của một nhóm người và thực tại của họ. Đối với Baby, nó thể hiện một bước ngoặt trong sự nghiệp phạm tội của anh. Trong ví dụ dưới đây từ The Lost World: Jurassic Park, chúng ta thấy một match cut theo phong cách ‘black comedy’.

Match cut có thể giống nhau về mặt hình ảnh, nhưng chúng cũng có thể mang nhiều tính ẩn dụ hơn – bạn có thể match bố cục, chuyển động, năng lượng và cảm xúc.

Trong ví dụ từ The Lost City of Z, chuyển động và vị trí của chất lỏng đi từ phải sang trái match với hướng chạy của con tàu. Mặc dù điều này có thể dễ dàng được lên kế hoạch trong quá trình sản xuất, nhưng nó cũng là một ví dụ điển hình về một match cut hữu cơ.

Để mắt đến những khả năng này, với tư cách là một người làm phim hay dựng phim, chắc chắn bạn sẽ tạo thêm một lớp ý nghĩa sâu sắc hơn cho bộ phim của mình.

Nếu bạn muốn xem các ví dụ hay ho hơn về match cut, bạn có thể tham khảo các bài viết dưới đây của PremiumBeat, bao gồm các supercut của Celia Gomez về match cut.

Sử dụng chồng mờ trong project của bạn.

Đôi khi chồng mờ giống như một hành động trốn việc. Như cách nói của những ông già gân trong nghề dựng “When you can’t solve it, dissolve it” (khi bạn không xử lý được vấn đề thì hãy dùng chồng mờ) – có nghĩa là khi người dựng phim không thể nghĩ ra được cách nào hay ho để cú cắt phim của họ trở nên có ý nghĩa, họ có thể xài tạm kỹ thuật chồng mờ.

Nhưng kỹ thuật nghe có vẻ đơn điệu này, nếu sử dụng đúng cách, đúng thời điểm, có thể là một chuyển đổi cực kỳ mạnh mẽ – có thể tạo ra kết nối hình ảnh cũng như ý nghĩa bổ sung cho phim.

Trong ví dụ dưới đây từ Natural Born Killers, chồng mờ kết nối khói thuốc lá của Mallory với hơi thở của con rồng.

Tôi nghĩ rằng thách thức của chồng mờ là nó thực sự đòi hỏi bạn phải suy nghĩ một chút thì mới có thể thành công với kỹ thuật này được. Sự kết nối trực quan bền vững giữa hai shot là gì? Bạn muốn truyền tải ý nghĩa gì khi đặt hai shot đó cạnh nhau?

Có phải nó được dùng để diễn tả sự trôi đi của thời gian? Hay suy nghĩ nội tâm? Hay sự kết nối giữa các nhân vật xuyên không gian và thời gian? Dù nó là gì thì cũng cần phải mang một ý nghĩa nào đó, nếu không chuyển đổi đó sẽ mang đến cảm giác không cần thiết.

Lần cuối cùng bạn sử dụng một cú chồng mờ thành công là khi nào?

YouTube chanel có tên This Guy Edits (Sven Pape) đã tạo một video essay khá thú vị về sự tương phản giữa những lần sử dụng chồng mờ thành công với những cú chồng mờ có mặt trên đời chỉ đơn giản là do lười biếng.

Pape lập luận rằng, bằng cách nào đó, chồng mờ là kỹ thuật dựng khó nhất vì nó thu hút sự chú ý của người xem, vậy nên nó thực sự phải có ý nghĩa – nếu không, nó sẽ thu hút sự chú ý của người xem vào thất bại của chính nó.

Trong phần bình luận, Brenn Film đã chia sẻ một số quan sát thú vị mà tôi chưa từng thử nghiệm bao giờ, nhưng nghe có vẻ có lý:

“Tôi đã học được một mẹo nhỏ để khiến cú chồng mờ trở nên ‘điện ảnh’ hơn một chút. Khi dựng kỹ thuật số, thông thường, cú chồng mờ sẽ kéo dài khoảng vài giây, tương đương với bội số của khoảng 25 hoặc 30 khung hình.

Nhưng trước đây, khi người ta còn quay phim nhựa và kỹ thuật chồng mờ còn được thực hiện trong phòng lab với 2 cuộn phim âm bản, chồng mờ có độ dài bằng bội số của 8 frame, do việc đóng và mở của iris từ cuộn a sang cuộn b. Lượng này cho cảm giác ‘điện ảnh’ hơn… và hãy tin tôi, bạn đã có thể cảm nhận được sự khác biệt ở một vài frame rồi.

Vậy nên nếu thực hiện chồng mờ trong một bội số của 8 khung hình, thì chúng sẽ mang đến cảm giác khá ‘điện ảnh’ như những trong bộ phim cũ với quá trình dựng được thực hiện trên những cuộn phim nhựa.”

Để học về cách sử dụng kỹ thuật chồng mờ, bạn có thể tham khảo bài viết của Logan Baker trên PremiumBeat

Những cú cắt ẩn


Một trong những kỹ thuật dựng ưa thích của tôi là kỹ thuật mà ở đó khán giả không nhận thấy rằng có một cú cắt phim. Những cú cắt ẩn này thường là nhu cầu thiết yếu trong làm phim – ví dụ như là để kết nối hai địa điểm khác nhau như thể chúng là một.

Dòng tweet từ Solo VFX Supervisor Rob Bredow cho bạn biết các nhà làm phim sử dụng kỹ thuật cắt ẩn điêu luyện như thế nào – giấu trong một màn đen để kết nối với địa điểm quay bên ngoài của Millennium Falcon với bối cảnh bên trong.

Điều tôi nghĩ là nguyên nhân khiến kỹ thuật này làm việc tốt là hai khung hình màu đỏ xuất hiện khi Han bắn cây blaster khi mất điện, khiến cho bóng tối trở nên có chủ ý hơn và kết nối trở nên liền mạch hơn.

Trong khoảnh khắc này, bạn có thể thấy Rob nói về một số khoảnh khắc VFX cụ thể lấy từ tác phẩm của anh trong Solo: A Star Wars Story.

Trong ví dụ này từ Editing Modulations, cú cắt ẩn này trong Dunkirk của Christopher Nolan không chỉ giúp tạo ra sự nhầm lẫn mà còn làm tăng tác động của một vụ nổ dưới nước. Một lần nữa, việc kết hợp của một chút ánh sáng khiến cho phần tối của sequence trở nên đáng tin hơn.

Những ví dụ khác về cú cắt ẩn, đặc biệt là trong các bộ phim ‘one-take’ như Birdman hay Rope của Alfred Hitchcock, bạn có thể tham khảo trong bài viết này.

Wipe và các chuyển đổi.

Mặc dù Star Wars mang thuật ngữ ‘wipe dissolve’ trở lại từ điển điện ảnh của các khán giả hiện đại, nhưng chính nó cũng đề cập đến khả năng sử dụng wipe của Akira Kurosawa và những bộ phim B 30 giây.

Supercut dưới đây chỉ ra những đoạn wipe trong bộ ba phim Star Wars gốc, bạn có thể thấy chúng nhiều và đa dạng đến như thế nào.

Ngày nay, wipe có vẻ lỗi thời, hay ít nhất nó được biết đến kiểu tự tham khảo: ‘Chúng tôi sử dụng một cú wipe như trong Star Wars và bạn nên chú ý đến sự hơi lởm của nó.’

Nhưng cũng như chồng mờ, với một chút sáng tạo và lên kế hoạch tốt, wipe có thể là một điều đẹp đẽ.

Trong video essay của Nerdwriter, bạn có thể thưởng thức các phân tích hết sức chi tiết về một số chuyển đổi sáng tạo được đạo diễn Edgar Wright sử dụng trong Scott Pilgrim vs. The World. Bao gồm cách anh ấy sử dụng các tùy chọn về tiền cảnh, kết hợp các chuyển đổi trong shot-reverse-shot, các hiệu ứng âm thanh để giúp cho các chuyển đổi liền mạch và đáng chú ý.

Đây là một khung hình tĩnh trong sơ đồ chuyển đổi trong cảnh với các phân tích về chuyển đổi wipe sang bên phải, hợp nhất với 3 shot khác nhau trong Scott Pilgrim.

Chuyển đổi đơn giản này trong Snatch, cho thấy hiệu quả của một chuyển động trượt cơ bản khi được kết hợp với một số hành động ăn khớp. Người tạo ra Editing Modulations nhận xét rằng “kỹ thuật trong Snatch sử dụng hiệu ứng âm thanh, chuyển động của diễn viên và chuyển động của máy quay để làm cho hiệu ứng liền mạch.”

Một điều mà mấy cái ảnh .gifs này không làm được là chuyển tải một thành phần không thể thiếu trong làm phim: sound design. Đây là thành phần quan trọng giúp hoà trộn các shot với nhau.

Ngày nay, cú whip pan là một chuyển đổi được chấp nhận, thường thấy trong các phim hài để giữ năng lượng khi chúng ta di chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác.

Bạn có thể tìm hiểu thêm về whip pan và tạo ra một số hiệu ứng hình ảnh hay ho trong bài viết của Jason Boone đăng trên PremiumBeat

Kết hợp các kỹ thuật với nhau

Không có kỹ thuật nào được liệt kê ở trên cần được sử dụng độc lập, người ta thường kết hợp nhiều kỹ thuật với nhau để tạo ra hiệu ứng mạnh mẽ hơn.

Một trong những chuyển đổi kết hợp ưa thích của tôi là trong Darkest Hour, khi màn ném bom như rải thảm của Pháp chuyển sang cảnh những những binh lính nằm chết thông qua một match cut kèm chồng mờ. (bạn phải click vào đây mới xem được)

Trong ví dụ từ Bram Stoker’s Dracula của Francis Ford Coppola, match cut kết hợp với chồng mờ chậm, do đó ta thấy đôi mắt của sói sáng lên trong vết cắt của ma cà rồng trước khi hoàn toàn chuyển sang cảnh một con sói đang nhìn chằm chằm vào máy quay.

Ví dụ trong Wind River, dựng phim Gary D. Roach tạo ra một match cut tuyệt vời với một cú cắt bán vô hình giữa 3 shot này.

Tôi nói đó là cú cắt ‘bán vô hình’ vì shot dài 5 frame quay cảnh đôi boot của Jeremy Renner tiến lại gần như phủ đầy màn hình match với bóng tối của cái cửa trước khi nó bị đá vào. Khoảnh khắc ngắn ngủi màu đen đó giúp tạo cho khán giả một sự liên tục về hình ảnh (từ đen sang đen) nhưng nhịp điệu và năng lượng của các shot giữ cho chuyển động tiếp tục được duy trì qua cú cắt.

Tôi chỉ có thể tưởng tượng rằng các nhà làm phim đã ngồi tỉ mỉ miệt mài xử lý nhịp độ và thời gian của một shot để tạo ra một cú cắt phim chuẩn.

Nó cũng là một ví dụ tuyệt vời về việc sử dụng match cut để kết nối các nhân vật trong thời gian và không gian trong khi duy trì một kết nối câu chuyện mạch lạc – dù cho các cảnh diễn ra một cách độc lập.

Nguồn: Premium Beat

Pixel Factory sưu tầm và biên dịch

Tin liên quan