QUÁ TRÌNH XỬ LÝ HẬU KỲ CHO PHIM TÀI LIỆU A LEGO BRICKUMENTARY

A LEGO Brickumentary là một phim tài liệu nói về quá trình ra đời và sự hấp dẫn của các khối LEGO. Giống như nhiều phim tài liệu lịch sử khác, dự án này làm việc với nhiều loại footage khác nhau, bao gồm các footage phim nhựa và các footage quay bằng nhiều loại máy quay kỹ thuật số hiện đại khác nhau – một số footage được quay tại cùng một sự kiện.

Trong bài viết này, Co-producer và post-production supervisor Chad Herschberger của Milkhaus chia sẻ với chúng ta về việc họ làm trong phim tài liệu này và các công đoạn hậu kỳ, bao gồm animating khuôn mặt trên các khối LEGO, chuyển đổi giữa Avid Media Composer và DaVinci Resolve để xử lý các định dạng khác nhau từ nhiều loại máy quay khác nhau và giúp chúng trở nên đồng bộ.

Hỏi: Anh đã tham gia bộ phim này như thế nào?

Herschberger: A LEGO Brickumentary do Daniel Junge đồng đạo diễn. Anh ấy người làm phim gốc Denver, và chúng tôi đã có quen biết với nhau từ trước. Một đối tác khác của Milkhaus là Davis Combe, đã dựng rất nhiều phim của Dan, và chúng tôi cùng tham gia xử lý hậu kỳ cho rất nhiều phim, bao gồm Being Evel (2015) và Saving Face (2012), là phim giúp Dan giành được giải Oscar cho phim tài liệu ngắn xuất sắc nhất.

Hỏi: Anh đảm nhận vai trò gì trong project này?

Herschberger: Vai trò chính của tôi là Giám sát hậu kỳ (post-supervisor), nhưng tôi cũng tham gia dựng rất nhiều cảnh, và tôi chịu trách nhiệm thiết kế và xây dựng workflow hậu kỳ. Có 7 hay 9 sequence stop-motion trong phim, và chúng tôi đã tìm đến một nhóm ở L.A. để làm phần stop-motion với các nhân vật Lego không có mặt. Sau đó, chúng tôi về phòng hậu kỳ, thực hiện motion track cho tất cả các minifigure và thêm mặt, lip-synch animation.

Hỏi: Anh đã xử lý animation cho khuôn mặt nhân vật như thế nào?

Herschberger: Tôi xử lý mọi thứ trong After Effects. Chúng tôi tải một catalog gồm có tất cả các khuôn mặt của Lego, từ đó, chúng tôi tạo ra một thư việc mắt, miệng và nét mặt. Chúng tôi thực hiện tất cả các lip-sync animation trong một phần mềm có tên là Toon Boom. Nó thực sự là một phần mềm hết sức tuyệt vời cho các animator, đặc biệt là nếu bạn cần xử lý lip-sync. Nó có những công cụ rất tuyệt, cho phép bạn gán âm thanh cụ thể cho từng hình dạng khuôn miệng và sau đó nó sẽ tự động xử lý phần còn lại. Dựa trên soundtrack, nó đưa ra những phỏng đoán tương đối chuẩn xác về việc khuôn mặt sẽ trông như thế nào. Chúng tôi xem lại và chỉnh sửa một số chỗ chưa chuẩn, sau đó, xuất ra dưới dạng file .svg sau đó chuyển lại vào After Effects để track và composite.

Hỏi: Anh dùng phần mềm nào để dựng phim

Herschberger: Toàn bộ phần dựng phim được thực hiện bằng Avid. Lúc bắt đầu, chúng tôi dùng Final Cut 7, nhưng sau đó chúng tôi thực hiện finishing trong Avid. Chúng tôi chỉnh màu bằng DaVinci Resolve.

Hỏi: Project này thì khác gì so với những project khác?

Herschberger: Khác biệt đầu tiên là quy mô sản xuất. Chúng tôi không thường làm việc trong các phim tài liệu quy mô lớn như thế này, nơi có một nhóm B ra ngoài để lấy thêm nội dung, trong trường hợp này, hầu như các storyline của phim đều do một nhóm khác nhau quay. Chúng tôi làm tất cả để duy trì các tiêu chuẩn chung bắt buộc phải đảm bảo về thiết bị mà chúng tôi có thể dùng, nhưng cuối cùng, chúng tôi nhận ra mình đã dùng rất nhiều loại camera khác nhau, với nhiều loại tiêu chuẩn khác nhau.

Chúng tôi cử một nhóm đến châu Á, mấy bạn này quay ở định dạng 25 fps vì để quên các ghi chú ở nhà – vậy nên có rất nhiều loại source khác nhau từ nhiều loại máy quay khác nhau, được quay ở nhiều frame rate khác nhau. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số tài liệu lưu trữ được quay nhiều năm về trước. Có rất nhiều loại source khác nhau. Khi sự kiện ra mắt X-Wing ở New York diễn ra, chúng tôi đã quay bằng nhiều loại máy quay khác nhau. Ngoài ra chúng tôi còn xin source từ Cartoon Network và các đơn vị tin tức khác cùng tham gia sự kiện. Rất nhiều loại máy quay khác nhau đã được sử dụng. Và nếu bạn đã xem sequence, thì tôi cho bạn biết một điều, là mỗi cut trong sequence đó được lấy từ một loại máy quay khác nhau.

Hỏi: Anh có conform các footage lộn xộn đó thành một format chuẩn không?

Herschberger: Avid đã buộc chúng tôi phải nháo nhào cả lên. Phần mềm này không cho phép bạn sử dụng nhiều loại media ở nhiều tốc độ khung hình với nhau như project của chúng tôi vốn có. Vậy nên, hầu hết các footage cần được xử lý trước. Chúng tôi sử dụng Teranex làm thiết bị chuyển đổi. Một số footage bị lệch tiếng và chúng tôi phải thực hiện re-time. Khi bị lệch tiếng, bạn phải xử lý bằng nhiều công cụ chứ không chỉ riêng phần mềm. Vậy nên, khi chuyển vào DaVinci Resolve, mọi thứ đã được confirm, ít nhất là về mặt kích thước khung hình và frame rate.

Hỏi: Anh chỉnh màu các footage đã được conform hay chỉnh màu các footage gốc?

Herschberger: Các footage quay bằng C300, bằng một mẹo nhỏ, bạn có thể dùng Avid để đọc các file MXF âm bản, vậy nên chúng tôi đã mang các media âm bản sang Avid và chuyển nó dưới dạng âm bản sang DaVinci. Các footage âm bản quay trên F3 không xem trực tiếp trên DaVinci được, vậy nên chúng tôi đã convert sang file Avid MXF để chỉnh màu trên đó.

Hỏi: Anh có lời khuyên nào cho những người sẽ thực hiện các project tương tự như thế này không?

Herschberger: Một số điều tôi nhắc đến tới đây có thể đã không đúng như thực tế nữa. Nhưng khi làm việc với Media Composer 7 và DaVinci, quá trình chuyển media từ Avid sang DaVinci hơi khó chịu.

Nếu bạn làm việc với các file MXF trên Media Composer 7, bạn không thể thực sự thay thế source vì Avid muốn gắn nhãn cho mọi thứ. Mỗi lần chúng tôi cần thực hiện bất cứ điều chỉnh nào trong màu sắc, rồi đưa nó trở lại Avid, chúng tôi đều phải conform lại, điều này khá khó chịu. Không có cách nào dễ dàng để thay thế nhiều shot trong timeline hiện thời của Avid.

Chúng tôi đã xây dựng một workflow sau khi đọc rất nhiều thứ trên các diễn đàn. Xuất QuickTime từ DaVinci Resolve và để Avid tạo một tập hợp các file media MXF dựa trên file QuickTime đó là một workflow tốt hơn bởi vì sau đó bạn có thể làm việc với hệ thống quản lý media của Avid. Bạn có thể vào Avid và xóa một file MXF và điều chỉnh nó lại trên file QuickTime và bạn có thê rghi đè lên file QuickTime gốc trừ DaVinci Resolve. Vậy nên, làm thêm một bước trong Avid cho phép bạn tạo được rất ít media. Nó dễ hơn việc thay thế các file media và không chỉ thêm hoặc đánh dấu các file media mới.

Hỏi: Anh xuất file DCP phải không?

Herschberger: Chúng tôi xuất HDCAM cho các lần chiếu đầu tiên. Cuối cùng, chúng tôi xuất DCP với Deluxe, nhưng không may là các buổi chiếu đầu tiên trên định dạng HDCAM và bộ phim được chọn khá nhanh.

Hỏi: Anh thích máy quay nào nhất và loại nào thì không ưng ý nhất?

Herschberger: Cái này hơi mang tính cá nhân. Tôi là một fan của Sony và tôi thích Sony FS7. Chúng tôi đã khá thành công với máy quay này.

Hỏi: Anh thích nó hơn Canon C300 à?

Herschberger: cá nhân tôi thấy C300 khá đẹp và khi cầm nó trên tay tôi thấy nó khá dễ chịu, bạn có thể quay được những hình ảnh rất đẹp với nó.

Tôi không thích C-Log cho lắm. Tôi không nghĩ bạn có được nhiều thứ từ nó bởi nó không phải là codec Log thật. Nó là một picture profile được Canon cải tiến lại. Hơn nữa, chúng tôi thấy codec của C300 khá giới hạn, dẫn đến một số vấn đề khi quay trên hiện trường như: thiếu sáng, phơi sáng, các vấn đề đại loại vậy. C300 có thể phức tạp hơn so với Sony F3 bởi có nhiều thông tin màu trong codec của F3 hơn trong của C300. Tôi nghĩ C300 là một cái máy quay đẹp, nhưng tôi nghĩ nó cần phải được dùng đúng cách mới thể hiện được hết khả năng của mình. Tôi nghĩ máy quay của Sony thì dễ chịu hơn một chút.

Cái máy quay mà tôi nghĩ mình sẽ không muốn làm việc chung nữa là Canon 5D. Tôi nghĩ rằng, dần dần, chúng tôi đã không dùng 5D nữa mà chọn máy quay khác. Vậy nên chúng tôi không cần phải khổ sở làm cho hình ảnh quay trên 5D khớp với hình ảnh quay từ các máy khác nữa. Điều này khiến chúng tôi khá thanh thản. Đó là một vấn đề đã hành hạ chúng tôi trong nhiều năm. Có quá nhiều người làm phim và khách hàng sử dụng 5D như camera B, và hình ảnh của nó chẳng khớp với cái nào hết. Nó không khớp với C300, không khớp với Sony – không bất cứ máy nào, hơn nữa codec lại rất chán. Mark III tốt hơn một chút những codec của nó cũng không hề được cải thiện nhiều. Bỏ qua rolling shutter và vấn đề moiré và nhiều vấn đề khác, chỉ cần xét đến không gian màu của nó thôi là đã đủ thấy oải rồi.

Nguồn: filmmakermagazine.com

Pixel Factory sưu tầm và biên dịch

Tin liên quan