ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM KHI DỰNG PHIM TRÊN DAVINCI RESOLVE

Lần trước chúng tôi có viết một bài viết về việc DaVinci Resolve 14 của Blackmagic Design có thể nhanh chóng trở thành công cụ hậu kỳ cuối cùng. Nhưng tôi vẫn muốn kiểm tra thử trên một project thật. Liệu tôi có thể dựng toàn bộ một phim trên Resolve mà không cần phải    nhờ đến sự hỗ trợ từ NLE cơ bản mà tôi đang dùng hay không?

Câu chuyện của phim

Một đứa bé khóc than. Một nhóm hơn 35 người đang đóng vai một đám đông giận dữ đang la hét. Mút xốp, vết thương giả, các màn chiến đấu được dàn dựng.

Và tôi, ở một cái bàn xếp, đang dựng phim một cách giận dữ giữa sự hỗn loạn đó.

Là một người dựng phim dài, tôi thích sự tĩnh lặng. Tôi thích các suite dựng phim được điều khiển nhiệt độ. Và tôi thích sử dụng phần mềm dựng mà tôi hiểu rõ.

Vậy mà, vào một ngày cuối tháng tám nắng bất thường, tôi quyết định dựng toàn bộ các footage được quay trong ngày, ngay trên hiện trường, với DaVinci Resolve – trước đây tôi chưa từng dùng nó để dựng phim và tôi cũng không hề nghĩ là nó có khả năng này.

Vài tháng trước đó, tôi và bạn tôi đã đánh liều lên lịch thực hiện phim ngắn của chúng tôi có tên là Currency.

Currency là câu chuyện diễn ra tại một thị trấn nhỏ một tuần sau khi tất cả các hồ sơ tài chính ngân hàng, tín dụng và các hệ thống thanh toán điện tử biến mất. Một trạm xăng do gia đình điều hành đã trở thành kho lưu trữ quan trọng nhất ở thị trấn đó. Bởi vậy, gia đình đó trở nên bị chia rẽ sâu sắc do việc không biết làm gì với sự giàu có bất ngờ và chóng vánh này.

Khi thực hiện tiền kỳ, tôi vừa mới viết xong bài viết về DaVinci Resolve và khi truy cập website của Blackmagic Design, tôi thấy họ đã táo bạo tuyên bố rằng đây là trình dựng phim chuyên nghiệp nhanh nhất và tiên tiến nhất!

Dòng chữ đó đã thực sự đánh thức sự tò mò của tôi và tôi nghĩ, có lẽ tôi nên thử dựng phim của mình trên DaVinci Resolve.

Là giám sát hậu kỳ kiêm dựng phim, tôi là người tự mình biện hộ cho mình. Quá trình quay tự bản thân nó đã gặp những áp lực rất lớn. Chúng tôi chỉ có 3 ngày để biến một cửa hàng kỳ quái ở miền quê thôn dã bên ngoài New York thành thế giới tiền-tận-thế của riêng chúng tôi.

Hình ảnh trước và sau tại Forestburgh General Store. Thiết kế sản xuất: Sarah Caye; Art Direction: Langston Kahn; Carpentry: Ryan Murphy.

Và chúng tôi đã lên kế hoạch để quay cảnh khó nhất trong ngày đầu tiên – một cuộc bạo loạn với đủ các pha nguy hiểm bao gồm bắn súng, người bị thương và hàng tấn thứ ồn ào khác.

Đây là phần đầu cảnh

Cảnh này có thời lượng tương đương với hai trang, nhưng khá phức tạp – với 54 shot cả thảy. Đó là một ngày quay đầy tham vọng của chúng tôi. Để có thể thực hiện được khối lượng công việc đồ sộ ấy, chúng tôi cần phải di chuyển một cách nhanh chóng, kể cả tôi.

Trên phim trường, tôi sẽ phải dựng càng nhanh, càng khớp với thời gian thực càng tốt, để chúng tôi có thể biết một cách chắc chắn rằng chúng tôi đã quay đủ để thể hiện bao quát được cảnh tuyệt vời này.

Tôi cần một workflow cho phép tôi giải quyết nhanh vấn đề ingest và sync và đi đến quá trình dựng càng nhanh càng tốt. Và tôi nghĩ Resolve đã vượt qua thử thách này.

Resolve có thể:

  • ● Bấm một nút và sync cùng một lúc
  • ● Gán nhãn (label) theo khối và tổ chức các clip
  • ● Dễ xử lý các video với nhiều tốc độ khung hình khác nhau trên cùng một timeline.
  • ● Deliver dựa trên lời hứa về các công cụ dựng phim chuyên nghiệp tiêu chuẩn ngành.

Sự tò mò của tôi đã được giải toả, và thế nên tôi quyết định

Tôi muốn dựng các footage trong ngày đầu tiên ngay trên hiện trường bằng Resolve. Nếu mọi chuyện diễn ra tốt đẹp, tôi sẽ xem xét việc dựng toàn bộ phim trên phần mềm này. Nếu không, ít nhất thì tôi cũng sẽ biết được Resolve có thể làm được những gì.

Thiết đặt

Điều đầu tiên mà tôi làm để đảm bảo chắc chắn rằng chúng tôi sẽ không lao đầu vào thất bại là mở keyboard mapping của Resolve lên. Tôi thường rất hứng thú với các trình dựng phim dựa trên keyboard và tôi đã hầu như thuộc hết các phim tắt trong Premiere.

Keyboard mapping Resolve. Tôi set up mọi thứ tương tự như trên “Adobe Premiere Pro” để tiện làm việc

Từng cái một, tôi thiết đặt các phím tắt quen thuộc của mình trong Resolve, và điều này ngay lập tức đã khiến tôi hết sức ấn tượng. Có rất nhiều tính năng dùng cho dựng phim và tôi bắt đầu cảm thấy tự tin rằng tôi sẽ không phải làm việc với sự thiếu vắng quá nhiều phím tắt mà tôi ưa thích trên Premiere.

Tôi đã bắt đầu để tìm hiểu sâu hơn

Nhưng trước khi chúng ta đi xa hơn, có một và chi tiết liên quan đến project mà bạn cần biết

  • ● Tôi làm việc trên Macbook Pro (2.6Ghz Core i7, 16GB RAM, NVIDIA GeForce GT 750M 2048 MB)
  • ● Các footage được quay bằng 2 máy RED với các ống kính Kowa anamorphic
  • ● Chúng tôi quay ở độ phân giả 3K-6K và ghi ở ProRes in-camera proxies ở tỉ lệ 1920×720
  • ● Chúng tôi quay ở cả tốc độ 23.976fps và 47.952fps
  • ● Chúng tôi sử dụng jam-synced timecode và ghi các track bên trong máy.
  • ● Tôi sử dụng bản miễn phí của Public Beta DaVinci Resolve 14

Quản lý phương tiện

Vào một ngày nắng ráo cuối tháng tám, mọi thứ đã được chuẩn bị xong và mọi người đã sẵn sàng. Chúng tôi hơi chậm so với lịch trình nhưng không sao. Máy quay bắt đầu quay và tôi bắt đầu nhận được các footage.

Cả một làng tham gia vào việc làm phim. Từ trái qua phải: Nick Heppding (sound mixer), Scott Gabriel (director), Nikhil Kamkolkar (2nd AC), Jonny Kapps (AC), Matthew Canada (“B” Camera Operator), Matthew Weitz (Ed, người nằm trên mặt đất), Jan Lucanus (biên đạo các cảnh chiến đấu), Và nhiều người khác (phía sau cánh cửa).

Tất nhiên, tôi hầu như không có cơ hội thấy được bất cứ tia nắng cuối hè nào. Tôi ngồi ở bên trong, càm ràm về cái bàn lung lay và ingest các footage vào Resolve.

Đây là suite dựng phim của tôi, trước khi nó trở thành bối cảnh trong phim vào ngày hôm sau, và tôi đã rút vào một góc tối tăm

Về phương diện quản lý đa phương tiện, tôi đã biết được rằng Resolve hết sức xuất sắc. Tôi đã nêu chi tiết phương pháp ingest và sync trong bài viết trước. Và tôi thực hiện theo đúng quy trình đó trong project lần này. Tôi chọn auto-sync thông qua timecode và ProRes proxies trong máy quay.

Chỉ trong vài phút, các footage đã được sync và sẵn sàng để được gắn nhãn.

Media Page

Điều đầu tiên mà tôi đánh giá cao ở DaVinci Resolve là toàn bộ giao diện được thiết kế để nhập và tổ chức các phương tiện. Chắc chắn là, trong các NLE khác bạn có thể sử dụng một thiết lập màn hình kép và khiến thùng chứa to nhỏ theo ý bạn. Nhưng những người làm Resolve đã có những tính toán hết sức cẩn thận về tính năng khiến cho một quá trình dài dòng chậm chạp tẻ nhạt diễn ra nhanh chóng.

Media page của Resolve quen thuộc với hầu hết người dựng phim, với một browser để xác định vị trí media, một bin list để tổ chức các footage và một source monitor để xem trước các clip. Ngoài ra, còn có media pool, một tính năng hết sức cần thiết cho việc xem toàn bộ các bin được chọn, nơi bạn có thể dễ dàng thêm hoặc loại bỏ các cột để thấy nhiều metadata như bạn muốn trong nháy mắt, cũng như sắp xếp các clip theo metadata đó.

Bạn cũng có thể bật/tắt hoặc ẩn phần kiểm duyệt ở góc trên bên phải của trang, và bạn có thể chọn hiển thị loại metadata nào hoặc chỉnh sửa từ một menu thả xuống.

Phần kiểm duyệt có thể được dùng để xem thông tin của media trong media pool, hoặc incoming media trong media storage browser.

Dùng metadata để đổi tên clip

Resolve đã nhận ra rằng, tuỳ vào nơi bạn thực hiện xử lý hậu kỳ, bạn sẽ cần những loại thông tin khác nhau để hỗ trợ cho quá trình dựng.

Đối với người dựng, tên tập tin rất quang trọng trong toàn bộ quá trình nhập và đồng bộ hoá ban đầu, sau đó, nó chỉ còn là một chuỗi ký tự không cung cấp nhiều thông tin cho lắm.

Trong Resolve, bạn có thể chuyển giữa chế độ hiển thị tên file hoặc tên hiển thị.

Trong media pool, click chuột phải vào bất cứ tiêu đề của cột nào và chọn “Display Name” để hiển thị cột.

Cột mặc định là tên file, bạn có thể thay đổi trên mỗi clip bằng cách nhập thông tin bằng tay

Nhưng thậm chí, tuyệt vời hơn là, bạn còn có thể sử dụng metadata của clip để tự động điền tên hiển thị, tất cả cùng một lúc.

Trong hầu hết các film production cao cấp, âm thanh đồng bộ hoá của bạn sẽ được gắn nhãn trên hiện trường với số scene và số take. Nếu bạn từng đồng bộ hoá các footage trong Resolve, thì metadata này sẽ có sẵn cho mỗi clip đã được sync thông qua file âm thanh.

Chọn các clip mà bạn muốn đổi tên trong media pool, click chuột phải và chọn “clip attributes”. Điều hướng đến tab Name. Bạn sẽ thấy một input cho Display Name.

Trong khung Display Name, gõ ký hiệu % và bạn sẽ thấy một danh sách metadata nổi lên.

Bạn có thể chọn kết hợp bất cứ mục nào trong danh sách này để tự động điền tên hiển thị cho các clip của bạn.

Tôi chọn gắn nhãn clip của mình bằng %scene%take và nhấn OK. Cột Display Name của tôi tự động được điền.

Thậm chí, có một tính năng hữu dụng hơn, đó là, bạn có thể chuyển đổi giữa chế độ tên file hoặc tên hiển thị, bằng cách chọn (hoặc bỏ chọn) View > Show Display Names.

Khi bạn bật chế độ Show Display Names, chúng sẽ được hiển thị ở những nơi chính như:

  • ● Thumbnail view trên media pool
  • ● Tên của mỗi clip trên timeline
  • ● Thanh tiều đề khi xem trước source

Nếu bạn tắt chế độ Show Display Names, thì tên tệp của clip sẽ xuất hiện ở những vị trí trên. Điều trở nên rất tiện dụng khi bạn dự định chỉnh màu project luôn trong Resolve, khi mà tên tệp tiện hơn nhiều so với tên hiển thị.

Tên hiển thị (màu đỏ) với số scene/số take với tên tệp (màu đỏ) để finishing

Dưới đây là một đoạn chụp màn hình danh sách các file được gắn nhãn thông qua tên hiển thị, chỉ cho một cảnh duy nhất.

Ba chữ cái – đó là một lượng shot rất lớn

Tuy nhiên việc ingest, sync và label các footage trong ngày đầu không mất quá 15 phút.

Việc này làm tôi hết sức ấn tượng với Resolve

Việc dựng phim

Bên ngoài, armorer/pyrotechnician của chúng tôi đã che giấu các viên squib (các viên máu giả nổ tung ra ngoài áo sơ mi) trong quá trình quay. Tủ quần áo của chúng tôi có sẵn nhiều cái áo giống nhau để sẵn sàng khi cần quay lại.

Máu chảy ra từ một viên squib giấu bên dưới áo của Walter Masterson (Don), được điều khiển bởi Brian Schuley của The Specialists (bên phải)

Tôi biết rằng tôi muốn xem các pha bắn súng nguy hiểm ngay khi các footage được đưa vào, vì ngày hôm nay là ngày duy nhất chúng tôi có thể thực hiện các shoot này trên hiện trường.

Để giúp bạn hiểu thêm về cảnh quay thì dưới đây là một đoạn trích được lấy ra từ kịch bản, sau khi đám đông giận dữ phá hoại cổng sau của cửa hàng. Javier, chủ cửa hàng, cố gắng bảo vệ số xăng dầu dự trữ của mình.

Mặc dù đây là một cảnh hành động, nhưng cũng có một số sự thay đổi quan trọng của nhân vật và một số nhịp cảm xúc cần được làm nổi bật. Điểm chính yếu của cảnh này là về một gia đình trong khoảnh khắc tuyệt vọng cùng cực của họ.

Nhìn chung, đây là một cảnh khá khó, đặc biệt là dưới áp lực về mặt thời gian. Điều này cũng có nghĩa rằng chúng tôi đang thực hiện một kiểm tra sâu hơn về khả năng của Resolve.

Khả năng dựng cơ bản

Các cut đầu tiên trên timeline khá trôi chảy. Miễn là bạn đã thiết đặt các phim tắt trước ở nhà, bạn sẽ cảm thấy rất thoải mái với timeline của Resolve.

Sau vài phút làm việc, tôi thực sự đã quên mất là tôi đang thử nghiệm một chương trình mà tôi chưa bao giờ sử dụng trước đây. Rõ ràng là những người làm Resolve đã tham khảo và phân tích sâu sắc các NLE tuyệt vời khác và đảm bảo sao cho Resolve không bị thiếu bất kỳ tính năng cơ bản nào.

Điều mà tôi đặc biệt thích là khả năng chuyển giữa Edit page và Media page khi cần. Mỗi lần tôi phát hiện mỗi lỗi trên nhãn hoặc clip đó thiếu khung hình hay chưa được đồng bộ. Trong trường hợp đó, việc chuyển về Media page một cách nhanh chóng giúp tôi tiết kiệm được rất nhiều thời gian và nỗ lực để khắc phục sự cố.

Dưới đây là một số mẹo dựng phim căn bản mà tôi phát hiện ra khi dùng Resolve

Màu của Background

Bạn có thể thay đổi màu background của source và viewer monitor từ màu đen sáng xám bằng cách nhấp vào biểu tượng setting ở góc dưới bên phải của timeline, chọn tab General Options và chọn “Use gray background in viewers.”

Vì các clip của tôi đã có tỉ lệ màn hình rộng, tôi không biết chỗ nào thì các cạnh của clip nằm giáp với background đen.

Background đen và background xám.

Chuyển sang Timeline sau khi dựng

Theo mặc định, khi bạn dựng phim trong Resolve thông qua source monitor, ví dụ, cài đặt điểm in/out, thì khi thực hiện insert hoặc overwrite edit, Resolve sẽ tự động kích hoạt timeline.

Điều đó chắc chắn có ích, nhưng trong giai đoạn đầu của dựng phim, khi bạn đang kéo các lựa chọn, tôi thấy rằng sẽ tốt hơn nếu có một source monitor hoạt động chính, để bạn có thể nhanh chóng thực hiện các hoạt động chỉnh sửa trên timeline trên cùng một clip. Sau một hồi vò đầu bứt tóc, cuối cùng tôi cũng tìm ra cách tắt/bật tuỳ chọn này.

Trong menu phía trên, chọn Edit > Switch to Timeline After Edit.

Transform Controls

Bạn có thể điều chỉnh khung trên một shot bằng hai cách hoàn toàn khác nhau. Bạn có thể chọn clip trên timeline, mở inspector và điều chỉnh thiết đặt từ bảng điều khiển.

Hoặc bạn có thể bật bút transform ở góc dưới bên trái Viewer lên, cho phép bạn thay đổi kích thước clip bằng cách kéo bounding box.

Từ nút transform ở menu bên dưới, bạn có thể truy cập các công cụ crop và một công cụ “dynamic zoom”, cho phép bạn keyframing một cách nhanh chóng trên các clip.

Playback toàn màn hình

Khi playback một clip hay toàn bộ timeline ở chế độ toàn màn hình (Cinema Viewer mode), một thanh thả xuất hiện cho pháp bạn dễ dàng điều hướng toàn bộ clip. Tôi rất thích tính năng này.

Mặc dù vậy, điểm yếu của Cinema Viewer mode là bạn không thể đánh dấu hoặc không biết đang phát tới đâu rồi. Tôi rất hy vọng tính năng này sẽ được bổ sung trong tương lai.

Trước khi tôi biết về nó, tôi có một danh sách trước mặt. Tôi xem lại, và khá thích. Nhưng vẫn còn lấn cấn cái gì đó.

Trong một cảnh như thế này, nhịp điệu là điều vô cùng quan trọng – mỗi frame được tính trong một sequence nơi độ dài trung bình của mỗi shot là 1 giây.

Các tính năng dựng nâng cao.

Lúc này, sự hỗn loạn đang được dàn dựng. Ánh sáng ban ngày rực rỡ đã làm cho các diễn viên và đoàn làm phim bị say nắng. Chúng tôi đã chạy được vài giờ và ngày đang nhanh chóng qua. Gần như không có cách nào để hoàn thành mọi việc trong ngày hôm nay được.

Chúng tôi tìm mọi cách để sử dụng các đạo cụ trong phim một cách sáng tạo

Nhà sản xuất và AD của chúng tôi đang chuẩn bị lên lịch quay dự phòng cho ngày tiếp theo vì sợ rằng chúng tôi sẽ không thể hoàn thành mọi thứ trong hôm nay, thì tôi nhận ra rằng tôi có rất ít cơ hội để yêu cầu thực hiện các shot mà tôi thấy thiếu.

Điều này cũng có nghĩa là tôi phải cut sao cho cảnh này đủ tốt để khán giả không cảm thấy thiếu thiếu gì đó.

Tôi chọn lựa các footage. Tôi có danh sách của mình và đây là lúc để tìm hiểu sâu về các công cụ trim của Resolve.

Trimming căn bản

Tôi bắt đầu làm các broad trim và cut chỗ này chỗ kia. Các công cụ trim nhanh của Resolve (tối ưu hoá cho cả chuột và bàn phim) đáp ứng được các mong đợi của bạn.

Bạn có thể thực hiện các lựa chọn cắt khác nhau bằng cách di chuột qua một điểm cắt và kéo các đoạn clip về phía trước hoặc phía sau, hoặc cuộn một điểm cắt. Tất cả các hoạt động này diễn ra trên chế độ timeline tiêu chuẩn của Resolve, “Normal Edit Mode”

Một trim cơ bản, thực hiện bằng chuột, mở rộng edit point

Chế độ trim edit

Resolve cũng có Trim Edit Mode, cho phép bạn sử dụng bằng cách click vào nút Trim hoặc dùng phím tắt T.

Trong Trim Edit Mode, bạn có thể thực hiện tất cả các chức năng trim như trong Normal Edit Mode, nhưng có thêm các chức năng bổ sung như ripple trimming và trimming trong lúc playback trong thời gian thực, hỗ trợ cả bàn phím lẫn chuột.

Vì thường tôi hiếm khi trim ở tốc độ playback 100%, tôi không bao giờ dùng riêng Trim Edit mode. Bạn không thể tận dụng việc trimming nhanh về phía trước, từng frame một, hoặc bằng cách dùng các công cụ JKL transport.

Dynamic JKL Trimming

Để đối phó với những giới hạn trong Trim Edit Mode, Resolve có một bộ công cụ khác được gọi là Dynamic Trim Mode.

Nhấn phím tắt W mặc định, bạn sẽ chuyển timeline sang chế độ Dynamic Trim Mode. Bạn sẽ thấy từ Dynamic Trim theo sau là “slip” hoặc “slide”, tuỳ theo chế độ mà bạn chọn, xuất hiện trên thanh công cụ của timeline.

Đây là nơi bắt đầu có sự nhầm lẫn – trong Dynamic Trim Mode, bạn có thể truy cập vào Selection Mode hoặc Trim Mode, với cùng các nút như trong Normal Edit Mode và Trim Mode, nhưng khác nhau ở các chức năng cụ thể khi bạn ở trong Dynamic Trim Mode.

  • ● Trong Selection mode (A), bạn có thể tự động resize hoặc roll edit, và di chuyển hoặc trượt clip
  • ● Trong Trim mode (T), bạn có thể tự động ripple hoặc roll edit, và slip và slide clip

Trong Dynamic Trim Mode, chỉ cần bạn chọn một cut point, các phím JKL sẽ chỉ hoạt động để trim lựa chọn đó, trong khi các phím cách sẽ bắt đầu “chơi xung quanh” bản dựng.

Mặc dù cần một bài viết chuyên sâu hơn để nói một cách hoàn chỉnh về cách hoạt động của Dynamic Trim Mode. Tuy nhiên, về cơ bản, ấn tượng của tôi về nó là một sự tách biệt và gây ra những hạn chế không cần thiết trong chế độ làm việc. Tôi chỉ cần một trim mode, nơi bạn có thể thực hiện tất cả các loại trim với các phím chuyển JKL.

Khi việc dựng với Resolve đã suôn sẻ hơn, tôi đã tập trung nhiều hơn vào nhịp điệu và tốc độ và bản năng của tôi về những gì cần thiết xảy ra nhanh hơn và nhanh hơn.

Tuy nhiên, tôi nhận thấy rằng tôi hơi bị mất hứng khi cố gắng thực hiện mọi thứ trên bàn phím.

Vì dynamic trimming hoạt động như một chế độ edit riêng và có nhiều phím chức năng bổ sung để thực hiện những điều chỉnh đơn giản.

Ví dụ, để ripple trim một cut theo từng khung hình, tôi phải chuyển sang Dynamic Trim Mode (W), chọn Trim Mode (T), và chọn edit point mà tôi muốn điều chỉnh trước khi tôi có thể thực hiện ripple trim bằng JKL.

Khi làm xong, tôi còn phải thoát khỏi Dynamic Trim Mode (W), nhưng nếu tôi thoát khi Trim Mode đang được chọn (tôi thường bị tình trạng này), tôi sẽ phải bấm thêm một phím tắt khác để trở lại Normal Edit Mode (A).

Có quá nhiều phím cần phải bấm chỉ để thực hiện một trim đơn giản!

Ngoài việc phải chuyển đổi liên tục giữa các chế độ, có hai điểm làm tôi bối rối:

  • ● Trong Dynamic Trim Mode, các mũi tên lên/xuống không cho phép bạn chọn các edit trước đó hoặc sau đó – có nghĩa là bạn phải dùng chuột để thay đổi lựa chọn edit, trong chế độ dùng cho keyboard trimming. Điều khiến tôi bối rối hơn nữa là trong Trim Mode thông thường, mũi tên lên/xuống di chuyển lên và xuống các edit trong timeline chính xác như những gì bạn mong đợi.
  • ● Ngay khi một a/v clip không liên kết được với timeline (điều này thường xảy ra liên tục vì một hành động ripple cut/delete), bất kỳ phim tắt nào mà tôi cố dùng để tạo vùng chọn trong edit point kế tiếp đều chỉ chọn A1 như hoạt động trimming track, ngay cả khi tất cả các track selector đều được chọn. Tôi không thể tìm ra cách để map một phím tắt có khả năng chọn tất cả các edit trên một điểm cut, như mặc định, dù cho các clip có được link hay không.

Khi tôi tiếp tục cố gắng tìm sự hoà hợp trong bản dựng, sự tò mò của tôi về phần mềm nhanh chóng biến thành sự thất vọng đầy bất mãn.

Tôi thừa nhận là tôi đã mất nhiều thì giờ quý giá để tìm hiểu chính xác thì Dynamic Trim Mode làm việc như thế nào và mục đích của người tạo ra nó là gì.

Cuối cùng, tôi đã bị đạo diễn kéo ra ngoài để nói trước một set up máy quay. Mặt trời đang lặn dần và nhiệt độ đã giảm xuống đáng kể. Mặc dù biết rằng chúng tôi đã không hoàn thành được ngày quay của mình, nhưng các diễn viên và thành viên trong đoàn vẫn giữ được tinh thần tốt.

Tôi bước qua một hình nộm, đang chờ đợi để hoàn thành vai trò đóng thế của mình một cách kiên nhẫn, và hít một hơi thật sâu.

Hãy thử lại lần nữa

Quay trở về với cái máy tính, tôi đã từ bỏ việc cố gắng để thành thạo dynamic trimming, và chuyển sang sử dụng các công cụ tuyệt vời khác trên Resolve. Mặc dù tôi thích sử dụng các phím tắt khi dựng hơn, nhưng việc dùng chuột nhiều hơn một chút cũng không ảnh hưởng gì nhiều, và việc này cũng giúp tôi linh hoạt hơn.

Tôi biết là tôi sẽ phải làm việc đến đêm để thêm các footage quay sau vào project, nhưng sau ngày quay đầu, tôi đã có bản dựng thô tương đối ưng ý và lên được một danh sách các shot mà tôi cần phải có vào ngày mai.

Resolve đã hoàn thành xong công việc của mình, hoạt động hiệu quả nhất khi tôi tập trung vào những điểm mạnh của nó thay vì cố gắng đối xử với nó như những NLE khác.

Kết luận và những ấn tượng cuối cùng

Vậy, tôi có thực hiện toàn bộ quá trình dựng phim trong Resolve? KHÔNG

Cuối cùng, tôi vẫn không thể dựng toàn bộ phim trên Resolve được mà phải chuyển qua Premiere Pro để thực hiện phần còn lại.

Nhưng điều đó không có nghĩa là bạn không thể. Chỉ là, trong lần đầu tiên, dưới áp lực về thời gian, tôi chưa quen với nó. Rõ ràng, Resolve là một NLE rất có năng lực.

Tôi đã tự phát triển một hệ thống mà sự mượt mà của nó phụ thuộc vào khả năng trim nhanh khi cần thiết. Đôi khi, tôi làm việc với đạo diễn ngồi sau lưng và theo dõi nhất cử nhất động của tôi cho đến khi tôi làm xong việc.

Tôi cần phải làm nhanh. Và đơn giản là tôi không dựng đủ nhanh để theo kịp ý tưởng của tôi.

Có khi nào là tôi hiểu sai hoàn toàn về dynamic trimming của Resolve không? Chắc hẳn rồi. Tôi muốn được chứng minh là mình sai ở điểm này.

Và tôi vẫn cho rằng thử nghiệm của mình đã thành công.

Đây là timeline trên Resolve của tôi

Nó không thực sự chính xác như vậy, nhưng việc ingest, tổ chức và cut cùng nhau 2/3 số cảnh với hơn 40 shot riêng biệt trên một ngày bận rộn duy nhất không hề là một việc tầm thường.

Các câu hỏi phụ

Ngoài tính năng dynamic trimming, một vài vấn đề khác liên tục khiến tôi phải chú ý trong suốt quá trình dựng, mặc dù đã tham khảo hướng dẫn sử dụng và các chỉ dẫn trên internet.

Tôi hy vọng một ai đó có nhiều kinh nghiệm làm việc với Resolve có thể gợi ý nhà sản xuất sửa lỗi hoặc giúp tôi trả lời những câu hỏi được nêu ra dưới đây:

● Ripple Cut/Ripple Delete

  • ● Nếu một vùng chọn được ripple hoặc ripple delete bao gồm một phần của một audio/video clip được link, clip sẽ bị unlink một cách khó hiểu (và khó chịu) sau khi bị remove.
  • ● Ripple cut không làm mất đi khoảng trống trên timeline bao gồm vùng chọn in/out.
  • ● Ripple delete làm mất đi khoảng trống, nhưng không thêm vùng chọn bị xoá vào clipboard.

● Tôi không thể nào tìm được cách copy và paste timecode từ timeline hoặc source monitor, một tính năng mà tôi cho là không thể thiếu trong NLE.

● Việc tạo một compound clip sẽ phá vỡ bất kỳ media nào với một alpha channel, chỉ cần display-back. Lỗi này làm gây ra rất nhiều giới hạn về mặt chất lượng và cấp độ của VFX mà bạn có thể làm trên timeline.

● Không hề có thông tin có bao nhiều clip mà bạn đã chọn trong một bin, hoặc thậm chí là thông tin về việc một bin có thể giữ bao nhiêu clip.

● Khi mở một bin trong một floating window, không có cách nào để thu nhỏ nó lại cho phù hợp. Size “nhỏ nhất” cũng to đùng nếu bạn làm việc trên một màn hình đơn.

● Càng thêm nhiều footage vào project, và sau đó là thêm vào timeline, project càng trở nên kém nhạy. Cụ thể, lệnh “reveal in media pool”, một công cụ mà tôi thường dùng để quay lại bin một cách nhanh chóng bất cứ lúc nào, trở nên hết sức chậm chạp, tỉ lệ với số lượng footage được thêm vào.

● Sự giảm sút nghiêm trọng về âm thanh trở thành vấn đề vì timeline ngày càng trở nên phức tạp về mặt âm thanh. Đôi khi, chỉ một vài frame bị cắt ra, nhưng đôi khi, tôi không thể phát âm thanh mà không khởi động lại chương trình.

● Thay vì các file project, Resolve dùng “databases” nơi nó lưu trữ và quản lý thông tin project. Mặc dù phương pháp này khá hữu ích, nhưng nó có thể gây nhầm lẫn với những người dùng bình thường, đặc biệt là những người thường đổi qua lại giữa các bin trên Avid hoặc các project trên Premiere.

Nói một chút về tương lai

Resolve, ban đầu là một công cụ chỉnh màu tuyệt vời, nay đã được phát triển lên thành một NLE đầy ấn tượng. Không có bất cứ phần mềm nào có thể cho bạn những chức năng tuyệt vời như vậy với mức giá 0 đồng.

Resolve đang cố gắng làm được những thứ chưa từng có trước đây – cung cấp một phần mềm thực sự có khả năng làm được tất cả mọi thứ.  Với các công cụ quản lý media, dựng, chỉnh màu, xử lý âm thanh và delivery, Resolve cho phép bạn giải phóng bản thân ra khỏi các workflow offline/online và làm việc trong môi trường mà các nhà phát triển mô tả là “parallel workflow.”

Mặc dù tôi chưa có cơ hội thử tính năng hợp tác làm việc (collaborative workflow) của Resolve (vốn chỉ có trong phiên bản studio với mức giá 7.997.000 VNĐ), cho phép nhiều người cùng tham gia dựng, chỉnh màu, quản lý dữ liệu cùng một lúc trên cùng một project. Wow!

Bạn có thể dùng Resolve để dựng phim cho dự án phim dài của bạn không? Có lẽ là không, trừ phi bạn có thể hoà giải được với những giới hạn mà tôi đã nêu ra ở trên. Đây có phải là lúc bạn dành thời gian để tìm hiểu sâu hơn về nó, làm quen với nó và chờ đợi những đợt nâng cấp mới không? Chắc chắn rồi!

Ồ, và nếu bạn đang tự hỏi Currency của chúng tôi thế nào rồi? Thì hãy xem trailer và tự tìm hiểu nhé!

Tác giả: Sofi Marshall

Pixel Factory sưu tầm và biên dịch